Rối Loạn Hoảng Sợ

Rối loạn hoảng sợ là gì?

Rối loạn hoảng sợ là một chứng bệnh thuộc nhóm rối loạn lo âu. Cơn hoảng sợ là tình trạng tâm lý, cảm giác sợ hãi cực độ và lo sợ điều tồi tệ sắp xảy ra. Thông thường cơn hoảng sợ thường ngắn hoặc đột ngột và gây ra các phản ứng dữ dội ở cơ thể.

Rối loạn hoảng sợ là một chứng bệnh thuộc nhóm rối loạn lo âu.

Rối loạn hoảng sợ là một chứng bệnh thuộc nhóm rối loạn lo âu.

Mỗi người thường chỉ có một hay hai cơn hoảng sợ trong đời và các vấn đề đó sẽ biến mất khi tình huống căng thẳng kết thúc. Nhưng nếu người bệnh có những cơn hoảng sợ không mong muốn và kéo dài trong một thời gian, người bệnh có thể mắc một tình trạng gọi là rối loạn hoảng sợ (panic disorder).

Mặc dù cơn hoảng sợ không đe dọa đến tính mạng nhưng chúng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của người bệnh.

Nguyên nhân gây ra hội chứng Rối loạn hoảng sợ là gì?

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng trên. Tuy nhiên, họ đã tìm ra mối liên quan giữa các vùng ở não bộ và cơn sợ hãi cũng như lo âu. Các chất dẫn truyền thần kinh (serotonin và epinephrine) có thể đóng góp một phần vào nguyên nhân của bệnh. Bệnh có xu hướng xảy ra ở những người trong cùng một gia đình.

Ngoài ra Caffeine, nicotine và các chất khác có thể làm tăng các cơn hoảng loạn. Các thuốc dẫn tới hội chứng Rối loạn hoảng sợ bao gồm steroid, ống xịt thuốc dùng cho bệnh hô hấp, thuốc tuyến giáp, thuốc giảm cân, thuốc có chứa caffeine và một thuốc trị dị ứng, ho và cảm lạnh cũng có thể góp phần gây ra bệnh này.

Các thuốc dẫn tới hội chứng Rối loạn hoảng sợ bao gồm steroid.

Các thuốc dẫn tới hội chứng Rối loạn hoảng sợ bao gồm steroid.

Mặc dù nguyên nhân gây ra hội chứng trên chưa được xác định rõ nhưng có rất nhiều yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ bị mắc hội chứng trên, bao gồm:

- Những đau buồn trong cuộc sống, ví dụ như người thân yêu của bạn bị bệnh nặng hoặc qua đời.

- Bị tổn thương về tâm lý trong quá khứ, chẳng hạn như bị lạm dụng tình dục, thân thể hoặc tai nạn nghiêm trọng.

- Những biến cố lớn trong đời ví dụ như ly hôn hoặc vừa trầm cảm sau sinh.

- Hút quá nhiều thuốc lá và uống quá nhiều caffeine.

- Tiền sử gia đình có người bị cơn hoảng loạn hoặc mắc chứng rối loạn hoảng sợ.

Triệu chứng thường thấy ở hội chứng Rối loạn hoảng sợ là gì?

Hiện nay, các triệu chứng thường thấy của hội chứng trên có thể bao gồm:

Cảm giác sắp có chuyện xấu xảy ra, lo lắng và tuyệt vọng.

Cảm giác sắp có chuyện xấu xảy ra, lo lắng và tuyệt vọng.

- Tăng nhịp tim và huyết áp.

- Đau ngực và dạ dày.

- Yếu đi và chóng mặt.

- Thở gấp, khó thở.

- Toát mồ hôi lạnh.

- Cảm giác sắp có chuyện xấu xảy ra, lo lắng và tuyệt vọng.

- Nói rất nhanh.

- Bồn chồn, đứng ngồi không yên.

- Gõ ngón tay hoặc ngón chân và siết chặt tay.

Cách điều trị hội chứng Rối loạn hoảng sợ như thế nào?

Hiện nay, tất cả các trường hợp bị mắc chứng Rối loạn hoảng sợ nên giảm stress bằng cách theo đuổi các sở thích của người bệnh, tập thể dục thường xuyên và ăn uống lành mạnh.

Tuy nhiên, có nhiều phương pháp điều trị hội chứng trên thường bác sĩ có thể được kết hợp các phương pháp lại với nhau để đạt được hiệu quả tốt nhất. Để điều trị hội chứng trên bác sĩ thường sử dụng các liệu pháp hành vi như phương pháp phản hồi sinh học. Khi đó, bệnh nhân sẽ được học cách thay đổi sức cơ hoặc sóng não bằng cách kiểm soát hơi thở. Các phương pháp khác bao gồm thư giãn cơ tăng dần, tưởng tượng, và thôi miên.

Để điều trị hội chứng trên bác sĩ thường sử dụng các liệu pháp hành.

Để điều trị hội chứng trên bác sĩ thường sử dụng các liệu pháp hành.

Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể chỉ định thuốc an thần benzodiazepine bao gồm alprazolam, lorazepam, clonazepam và diazepam. Tuy nhiên, những thuốc này cũng có thể có tác dụng phụ (ví dụ như khiến người bệnh buồn ngủ) và có thể gây tình trạng nghiện thuốc. Những người có tiền sử lạm dụng chất kích thích không nên dùng các thuốc này. Các loại thuốc hiệu quả khác cho chứng lo âu và hoảng loạn là các chất ức chế tái hấp thu serotonin, thuốc chống trầm cảm và kết hợp giữa serotonin và các chất ức chế tái hấp thu norepinephrine.