Bệnh Bạch Cầu Cấp

Bệnh Bạch Cầu Cấp

Bệnh bạch cầu cấp là gì?

Bệnh bạch cầu cấp là ung thư mô tạo máu bao gồm tủy xương và hệ thống mạch bạch huyết. Khi bệnh bạch cầu nói chung hay bệnh bạch cầu cấp nói riêng thì tủy xương bắt đầu tạo ra nhiều tế bào bạch cầu bất thường. Các tế bào này không thực hiện chức năng bình thường của tế bào bạch cầu mà phát triển nhanh hơn các tế bào bình thường và không dừng lại.

Nhìn chung, bệnh bạch cầu cấp được phân loại dựa vào tốc độ gây hại và loại tế bào bạch cầu bị ảnh hưởng, bao gồm:

Bạch cầu cấp tính hoặc mãn tính

Bệnh bạch cầu cấp phát triển rất nhanh, làm bạn cảm thấy mệt ngay lập tức. Bệnh bạch cầu mãn tính phát triển chậm và không có triệu chứng trong nhiều năm.

Bạch cầu dòng lympho hoặc dòng tủy

Bệnh bạch cầu dòng lympho ảnh hưởng tế bào bạch cầu lympho. Bệnh bạch cầu dòng tủy ảnh hưởng các loại tế bào hạt, hồng cầu hoặc tiểu cầu.

Bệnh cạch cầu cấp.

Bệnh cạch cầu cấp.

Đa số các nhận biết lâm sàng trong bệnh bạch cầu cấp là do tổn thương tủy xương dẫn đến thay thế các phần tử bình thường của tủy xương bởi các tế bào ác tính. Những biểu hiện ít gặp gồm thâm nhiễm trực tiếp cơ quan (da, đường dạ dày - ruột, màng não). 

Bệnh bạch cầu cấp thể lympho (ALL) chiếm 80% các bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em. Tần suất có thể mắc bệnh nhiều nhất là vào độ tuổi 3 - 7 tuổi. Tuy nhiên bệnh Bạch cầu cấp thể lympho cũng gặp ở người trưởng thành và có khoảng 20% của bệnh bạch cầu cấp gặp ở người lớn. Bệnh bạch cầu cấp thể tủy (AML) và thể cấp không có lympho (ANLL) chủ yếu là bệnh của tuổi trưởng thành và tăng tỉ lệ mắc bệnh theo tuổi. Tuy nhiên loại này vẫn gặp ở người trẻ tuổi và trẻ em.

Nguyên nhân dẫn đến bệnh Bệnh Bạch cầu cấp là gì?

Bệnh bạch cầu cấp tính thường xảy ra ở phái nam nhiều hơn phái nữ. Nguyên nhân bệnh đến nay vẫn chưa biết rõ. Các yếu tố thuận lợi cho sự xuất hiện của bệnh gồm có:

1. Nhiễm phóng xạ liều cao

Liều lượng (> 100 rads). Nhiễm độc hóa chất (Benzen, Phenylbutazone, Chloramphenicol, các thuốc chống ung thư nhất là các thuốc thuộc nhóm Alkyl, thuốc diệt sâu rầy DDT...).

2. Di truyền

Ở những người mắc hội chứng Down, tỷ lệ xuất hiện bệnh cao gấp 20 lần so với người bình thường.

Những người mắc hội chứng Down, tỷ lệ xuất hiện bệnh cao gấp 20 lần.

Những người mắc hội chứng Down, tỷ lệ xuất hiện bệnh cao gấp 20 lần.

3. Nhiễm siêu vi

Chủ yếu là siêu vi loại B hoặc C-RNA virus (nhất là loại C).

4. Do tổn thương

Người mắc bệnh bạch cầu cấp còn do một số tổn thương. Tổn thương chủ yếu xảy ra ở một số ít tế bào máu gốc. Nếu tổn thương xảy ra lúc tế bào máu gốc chưa chuyên biệt hóa sản xuất thì cả dòng hồng cầu, tiểu cầu đều có thể bị tổn thương như là trong bệnh bạch cầu cấp dạng hỗn hợp bạch cầu và hồng cầu (Erythroleukaemia).

Khi tổn thương xảy ra, sự điều hành sản xuất bạch cầu và sự trưởng thành của các bạch cầu bị rối loạn. Các bạch cầu non tăng sinh, không tuân theo sự điều hành, tiếp tục tăng sinh quá độ.

Vì các bạch cầu này không thể trưởng thành được, đời sống của chúng kéo dài hơn bạch cầu bình thường, kết quả là chúng sẽ tích tụ lại và xâm nhập các cơ quan tạo máu.

Các bạch cầu non tăng sinh này không những tràn ngập các cơ quan tạo máu mà còn ức chế sự tạo máu bình thường. Cơ chế ức chế này hiện nay chưa rõ là do yếu tố thể dịch (do các bạch cầu non tăng sinh tiết ra) hay là do yếu tố tế bào (do tràn ngập).

Về phần hồng cầu, nếu có tăng sinh quá độ, các hồng cầu non có thể thấy ngoài máu ngoại biên nhưng không gây ảnh hưởng gì tai hại để cần phải lưu ý điều trị như trong trường hợp bạch cầu. Hơn nữa, sự tăng sinh hồng cầu là sự tăng sinh không hiệu quả và phần lớn các hồng cầu non không trưởng thành được, sẽ bị hủy hoại ngay trong tủy xương.

Triệu chứng dễ nhận thấy khi bị bệnh Bệnh Bạch cầu cấp là gì?

Cũng như nhiều bệnh thông thường khác, bạch cầu cấp cũng có nhiều triệu chứng để chúng ta có thể dễ dàng nhận ra bệnh để có cách chữa trị kịp thời:

Dấu hiệu lâm sàng

- Thời gian đầu bị bệnh có thể xuất hiện đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, xuất huyết nhiều, suy nhược nặng hoặc xảy ra từ từ với các triệu chứng như mệt mỏi, xanh xao, sốt nhẹ, lở loét miệng không lành, chảy máu rỉ rả ở chân răng.

- Cũng có trường hợp bệnh nhân không có triệu chứng gì biểu lộ cả, bệnh chỉ phát hiện tình cờ khi bệnh nhân nhổ răng chảy máu không cầm được hoặc khi bệnh nhân là phụ nữ bị rong kinh.

Trong giai đoạn toàn phát

1. Thiếu máu

- Dấu hiệu này xuất hiện từ từ, mỗi ngày một nặng dần lên. Bệnh nhân xanh xao, khó thở khi gắng sức, hồi hộp, tim đập nhanh. Thiếu máu không hồi phục và không đáp ứng với các điều trị thiếu máu thông thường.

2. Sốt

- Sốt là dấu hiệu thường gặp nhất và có đủ tất cả kiểu sốt như sốt không theo một dạng hình đặc biệt nào cả. Sốt cao thường đi kèm với nhiễm trùng ở các hốc tự nhiên của cơ thể, nhất là miệng.

- Niêm mạc miệng, nướu răng dễ bị loét và làm mủ. Cũng có khi sốt không tìm ra được ổ nhiễm trùng và cũng không có đáp ứng với các loại kháng sinh.

Sốt là dấu hiệu thường gặp nhất.

Sốt là dấu hiệu thường gặp nhất.

3. Xuất huyết

- Thường là xuất huyết da niêm hoặc đôi khi xuất huyết nội tạng như xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết não - màng não, xuất huyết phổi.

- Xuất huyết da niêm có thể ở dạng điểm, ban xuất huyết hoặc mảng xuất huyết và có thể xảy ra ở mọi nơi trong cơ thể.

- Xuất huyết dưới hình thức đông máu nội mạch lan tỏa thường gặp trong thể tiền tủy bào (promyelocytic leucemie).

4. Tổn thương ở hệ thần kinh

Do các tế bào ác tính xâm nhập não, màng não. Các tổn thương hệ thần kinh chỉ xảy ra sau khi bệnh nhân đã tiến triển nhiều, bệnh nhân có thể có dấu màng não, tổn thương các thần kinh sọ, các dây thần kinh ngoại biên...

- Đau nhức xương khớp: Hay gặp và dễ nhầm lẫn với các trường hợp bệnh lý liên quan đến khớp như thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp. Xương ức, các xương dẹt khác và các khớp xương lớn hay bị đau nhức do các tế bào ác tính xâm nhập, gây ra hiện tượng hủy xương.

- Biến đổi hệ thống võng nội mô

- Hạch to, kích thước trung bình, đối xứng, di động, không đau, phần lớn là hạch ngoại biên. Hạch có thể toàn diện hoặc khu trú ở vùng cổ.

- Gan có thể bình thường hay trung bình.

- Lách to trung bình, không đau, đôi khi nhồi máu lách có thể xảy ra.

- U bướu ở da, hốc mắt, xương nhưng biểu hiện này ít gặp. Nếu có, thường xảy ra trong bạch cầu cấp dạng tế bào tủy.

Điều trị bệnh Bạch cầu cấp

Những phương pháp điều trị bệnh bạch cầu thông thường bao gồm:

- Hóa trị:

Đây là cách điều trị chính cho bệnh bạch cầu bằng cách sử dụng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư.

- Liệu pháp sinh học:

Giúp cho hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư.

- Liệu pháp nhắm trúng đích:

Bác sĩ sử dụng thuốc để tiêu diệt những mục tiêu chuyên biệt dễ bị tổn thương trong tế bào ung thư.

Các phương pháp điều trị.

Các phương pháp điều trị.

- Xạ trị:

Bác sĩ sẽ dùng tia X hoặc nguồn năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư và ngăn chặn sự phát triển của chúng. Xạ trị có thể được dùng để chuẩn bị cho ghép tế bào gốc.

- Ghép tế bào gốc:

Đây là phương pháp thay thế tủy xương bị bệnh bằng tủy xương lành.

Phòng chống bệnh bạch cầu cấp

Bỏ hút thuốc lá phòng chống rất nhiều bệnh ung thư.

Bỏ hút thuốc lá phòng chống rất nhiều bệnh ung thư.

Tránh tiếp xúc với hóa chất benzene

- Benzen là một sản phẩm phụ hóa học của than đá và dầu mỏ. Nó được sử dụng chủ yếu trong xăng, tuy nhiên lại được chứa trong sơn, dung môi, thuốc trừ sâu, thuốc tẩy rửa. Và đương nhiên những người làm trong các nhà máy sản xuất các sản phẩm này đã tự đặt mình vào vị trí dễ mắc bệnh bạch cầu.

Ngưng hút thuốc lá

- Hút thuốc lá khiến bạn có nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thư bao gồm cả bệnh bạch cầu cấp. Các chất gây ung thư trong thuốc lá được phổi hấp thụ rồi đi đến các mạch máu.

Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh

- Thay đổi chế độ ăn tăng cường rau xanh, trái cây, những sản phẩm tốt cho máu, hạn chế dầu mỡ, thức uống có cồn, nước ngọt có gas.

Các câu hỏi liên quan