Cây mắc cỡ

Cây mắc cỡ

Cây mắc cỡ là loại cây mọc hoang ven đường. Thế nhưng, theo những gì Đông y nghiên cứu, công dụng của cây mắc cỡ xứng đáng xếp vào danh sách các loại cây dược liệu giàu dược tính mà bạn nên biết.

Tên dân gian: Mắc cỡ, xấu hổ, trinh nữ, hàm tu thảo, cây thẹn.

Tên khoa học: Mimosa pudica L, Thuộc họ Trinh nữ Mimosaceae.

Mô tả:

Cây mắc cỡ là một cây thuốc nam quý. Là dạng cây bò sát đất, cây nhỏ, phân nhiều nhánh, có gai hình móc.

Lá kép lông chim chẵn hai lần, nhưng cuống phụ xếp như hình chân vịt, khẽ đụng vào là cụp lại. Mỗi lá mang 15-20 đôi lá chét.

Hoa màu tím đỏ, nhỏ, tập hợp thành hình đầu, có cuống chung dài, ở nách lá.

Cụm quả hình ngôi sao, quả thắt lại giữa các hạt, có nhiều lông cứng.

Mùa hoa quả tháng 6-8.

Phân bố

Cây của Mỹ châu nhiệt đới được truyền vào nước ta.

Cây mọc hoang khắp nơi, trong Nam cây mọc rất nhiều (Chưa thấy ai trồng).

Cây mắc cỡ ưa sáng, mọc trên đất ẩm ở bãi sông, ven đường, nương rẫy, ruộng bỏ hoang nhất là ở các tỉnh miền Trung cát nóng.

Bộ phận dùng

Toàn cây gồm lá, thân và cả rễ đều được dùng làm thuốc. 

Cành lá thu hái vào mùa khô, dùng tươi hay phơi khô. Rễ đào quanh năm, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô.

Thành phần hoá học

Toàn cây chứa alcaloid là minosin và crocetin còn có flavonosid, các loại alcol, acid amin, acid hữu cơ. Hạt chứa chất nhầy, lá chiết ra một chất tương tự adrenalin. Trong lá và quả đều có selen.

Tác dụng dược lý

Hoạt tính chống nọc rắn độc:

Khả năng trung hòa nọc rắn độc của cây mắc cỡ được nghiên cứu khá sâu rộng tại Ấn Độ. Nghiên cứu tại ĐH Tezpur (Ấn Độ) năm 2001 ghi nhận các dịch chiết từ rễ khô mimosa pudica L - Cây mắc cỡ có khả năng ức chế các độc tính tác hại của nọc rắn hổ mang Naja kaouthia. Sự ức chế bao gồm các độc hại gây ra cho bắp thịt, cho các enzy mes. Dịch chiết bằng nước có tác dụng mạnh hơn dịch chiết bằng alcohol (Journal of Ethnopharmacology Số 75-2001). Nghiên cứu bổ túc tại Đại Học Mysore, Manasa gangotry (Ấn Độ) chứng minh được dịch chiết từ rễ cây mắc cỡ ức chế được sự hoạt động của các men hyaluronidase và protease có trong nọc các rắn độc loại Naja naja, Vipera russelii và Echis carinatus (Fitoterapia Số 75-2004).

Hoạt tính chống co giật:

Nghiên cứu tại Departement des Sciences Biologiques, Faculté des Sciences, Université de Ngaoundere (Cameroon) ghi nhận dịch chiết từ lá cây mắc cỡ khi chích qua màng phúc toan (IP) của chuột ở liều 1000 đến 4000 mg/ kg trọng lượng cơ thể bảo vệ được chuột chống lại sự co giật gây ra bởi pentylentetrazol và strychnin tuy nhiên dịch này lại không có ảnh hưởng đến co giật gây ra bởi picrotoxin, và có thêm tác dụng đối kháng với các phản ứng về tâm thần gây ra bởi N-methyl-D-as partate (Fitoterapia Số 75-2004).

Hoạt tính chống trầm cảm (antidepressant)

Nghiên cứu tại Đại Học Veracruỳ (Mexico) ghi nhận nước chiết từ lá khô mimosa pudica L - Cây mắc cỡ có tác dụng chống trầm cảm khi thử trên chuột. Thử nghiệm cũng dùng clomipramine, desipramine để so sánh và đối chứng với placebo (nước muối 0,9 %). Liều sử dụng cũng được thay đổi (dùng 4 lượng khác nhau từ 2mg, 4mg, 6mg đến 8 mg/kg). Chuột được thử bằng test buộc phải bơi.

Hoạt tính chống âu lo

Được so sánh với diazepam, thử bằng test cho chuột chạy qua các đường đi phức tạp (maze). Kết quả ghi được: Clomipramine (1,3 mg/kg, chích IP), desipramine (2.14mg/kg IP) và Mắc cở (6,0mg/kg và 8,0 mg/kg IP) làm giảm phản ứng bất động trong test bắt chuột phải bơi. M. pudica không tác dụng trên test về maze. Các nhà nghiên cứu cho rằng hoạt tính của Mắc cỡ có cơ chế tương tự như nhóm trị trầm cảm loại tricyclic (Phytomedicine Số 6-1999).

Tác dụng trên chu kỳ rụng trứng:

Nghiên cứu tại ĐH Annamalai, Tamilnadu (Ấn Độ): Bột rễ mimosa pudica L - Cây mắc cỡ (150 mg/ kg trọng lượng cơ thể) khi cho uống qua đường bao tử, làm thay đổi chu kỳ oestrous nơi chuột cái Rattus norvegicus. Các tế bào loại có hạch (nucleated và cornified) đều không xuất hiện. Chất nhày chỉ có các leukocytes.. đồng thời số lượng trứng bình thường cũng giảm đi rất nhiều, trong khi đó số lượng trứng bị suy thoái lại gia tăng. (Phytotherapia Research Số 16-2002). Hoạt tính làm hạ đường trong máu: Dịch chiết từ lá mắc cỡ bằng ethanol, cho chuột uống, liều 250 mg/ kg cho thấy có tác dụng làm hạ đường trong máu khá rõ rệt (Fitoterapia Số 73-2002). Liều dùng: Dùng 15-25g dạng thuốc sắc.

Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam, mắc cỡ có vị ngọt, se, tính hơi hàn, có ít độc, có tác dụng an thần, dịu cơn đau, long đờm, chống ho, hạ nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu. Thường dùng trị: Suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, suy nhược thần kinh ở trẻ em, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm ruột non, sỏi niệu, phong thấp tê bại, huyết áp cao. Dùng 15-30g dạng thuốc sắc (có thai không dùng). Dùng tươi giã đắp bên ngoài trị chấn thương, viêm mủ da, dời leo.

Rễ cây cũng được dùng uống trị sốt rét, bế kinh, hen suyễn, dùng gây nôn. Hạt dùng trị hen suyễn và gây nôn.

Ở Dominica, nước hãm của Mắc cỡ với Cỏ voi (Panicum maximum) dùng điều trị bệnh phổi.

Nghiên cứu dược lý mới chứng minh toàn cây Mắc cỡ có hoạt tính chống HIV.

Bài thuốc

Chữa đau lưng, đau nhức xương khớp, chân tay tê bại

Rễ cây mắc cỡ thái mỏng, tẩm rượu, sao cho thơm. Lấy 20  - 30g sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Nếu dược liệu nhiều, có thể nấu thành cao lỏng, rồi pha rượu để dùng dần. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau:

  • Công thức 1: Rễ cây mắc cỡ, rễ bưởi bung, rễ cúc tần mỗi thứ dùng với khối lượng 20 gam; rễ đinh lăng, rễ cam thảo dây, mỗi thứ dùng với khối lượng 10 gam. Đem sắc uống trong ngày, có thể ngâm rượu.
  • Công thức 2: Rễ cây mắc cỡ, thân cây ớt lá to, rễ khúc khắc, thân cây bọt ếch mỗi thứ dùng với khối lượng 10 gam, rễ bạch đồng nữ, quả tơ hồng vàng, mỗi thứ 8g. Tất cả nấu với 2 lần nước, rồi cô lại thành cao lỏng. Uống làm 2 lần/ ngày.
  • Công thức 3: Rễ cây mắc cỡ 10 gam; lá cối xay, rau muống biển, lạc tiên, rễ cỏ xước, lá lốt, mỗi thứ 3 gam. Đem hãm với nước sôi hoặc sắc uống.
  • Công thức 4: Rễ cây mắc cỡ, cả cây xoan leo (tầm phỏng), mỗi thứ 20 gam; rễ cỏ xước 15 gam; củ xả 10 gam. Tất cả đem sao vàng, sắc uống ngày/ thang.
  • Công thức 5: Rễ cây mắc cỡ, hy thiêm, gai tầm xoọng, thiên niên kiện, thổ phục linh, dây đau xương tục đoạn, dây gắm, kê huyết đằng, mỗi thứ 12 gam. Sắc uống hoặc đem ngâm rượu uống.

Hỗ trợ điều trị và dự phòng tái phát đau xương, thấp khớp, tê thấp

Dùng 15 - 20 gam mỗi loại rễ cây mắc cỡ và rễ cây lá lốt, sắc uống trong ngày. Hoặc dùng nước thêm chút muối ăn sắc cây mắc cỡ và cây lá lốt, để ngâm các khớp bị bệnh trong thời gian chừng 20 - 30 phút khi nước thuốc còn ấm.

Huyết áp cao

Hà thủ ô 8 gam, Trắc bá diệp 6 gam. Bông sứ cùi 6 gam, Câu đằng 6 gam, Tang ký sinh 8 gam, Ðỗ trọng 6 gam, mắc cỡ gai 6 gam. Lá vông nem 6 gam, hạt Muồng ngủ 6 gam, Kiến cò 6 gam, Ðịa long 4 gam sắc uống. Có thể tán bột, luyện thành viên uống hàng ngày.

Thuốc tắm chữa viêm khớp

Cây mắc cỡ, lá lốt, mỗi thứ 40 - 50g, lá long não 20 gam, quế chi 15 gam, hoắc hương, tía tô, cây hy thiêm, lá ngải cứu, đơn tướng quân mỗi thứ 30 - 40 gam. Cho tất cả vào nồi, thêm nước xâm xấp đun sôi, tới khi có mùi thơm tỏa ra trùm vải kín để hơi nước thuốc ngấm vào bộ phận bị bệnh, xông khoảng 10 - 15 phút mỗi ngày. Tới khi mồ hôi ra toàn thân thì dừng lại. Nên xông hoặc tắm hơi ngày/ lần. Mỗi liệu trình 2 tuần, sau đó nghỉ 1 tuần rồi làm tiếp liệu trình khác.

Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, trằn trọc

Mắc cỡ 15 gam, dùng riêng hoặc phối hợp với Cúc bạc đầu 15 gam. Me chua đất 30 gam sắc uống hằng ngày vào buổi tối, dùng từ 7 - 10 ngày.

Chữa bệnh Zona, viêm mủ da

Lá cây mắc cỡ giã nát, đắp vào chỗ bị bệnh.

Hỗ trợ điều trị viêm khí quản mạn tính

  • Lấy 100 gam rễ cây mắc cỡ, sắc với 600 ml nước lấy 100 ml, chia 2 lần uống/ ngày. Mỗi liệu trình dùng 10 ngày.
  • Mắc cỡ 30 gam, rễ lá cẩm 16 gam đem sắc uống, chia làm hai lần uống/ ngày.

Chữa đầy bụng chậm tiêu

Lá và cành cây mắc cỡ 16 gam, thần khúc 12 gam, bạch thược 16 gam, mạch nha 16 gam. Sắc làm 2 lần, mỗi lần lấy một bát nước thuốc uống sau bữa ăn trưa và tối. Dùng từ 3 - 5 ngày.

Chữa khí hư

Rễ cây mắc cỡ tươi giã, ép nước rồi uống ngày/ 3 lần. Mỗi lần 2 thìa canh/ tuần.

Ðau ngang thắt lưng, nhức mỏi gân xương

Rễ Mắc cỡ rang lên, tẩm rượu rồi lại sao vào 20 - 30g sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với rễ cúc tần và bưởi bung, mỗi vị 20 gam, rễ Ðinh lăng và Cam thảo dây, mỗi vị 10 gam.

Chữa khí hư ở phụ nữ

Rễ cây mắc cỡ tươi giã, ép nước rồi uống ngày/ 3 lần. Mỗi lần 2 thìa canh/ tuần.

Viêm gan vàng da

Mắc cỡ (toàn cây), Trâm bầu (lá và ngọn), Bách bệnh (rễ), mỗi vị 15g, sắc uống hàng ngày, có tác dụng bảo vệ gan và lợi mật.

Trị bế kinh, viêm dạ dày mạn tính, đau đầu mất ngủ, hoa mắt, trẻ em tiêu hóa kém

Rễ mắc cỡ 10-20g sắc uống.

Nhức mỏi và sưng phù

Toàn cây mắc cỡ thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, sắc uống hàng ngày thay trà trị bệnh nhức mỏi và sưng phù.

Lưu ý

Phụ nữ có thai, người suy nhược, hàn thì không nên dùng.