Trẻ sinh non và các vấn đề về mắt

Trẻ sinh non và các vấn đề về mắt

Một em bé được sinh ra khi chưa đủ 38 tuần thai kỳ thì trẻ đó được cho là sinh non. Và bạn biết rằng, em bé được sinh ra sớm nên rất nhiều khả năng trẻ gặp phải các vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả tình trạng mắt. Biết được nguy cơ cho các vấn đề về thị lực và những gì bạn có thể thực hiện để giúp ngăn ngừa mất thị lực ở trẻ sinh non.

Bệnh lý võng mạc do sinh non (ROP - Retinopathy of Prematurity)

Tình trạng này có xu hướng chỉ xảy ra ở trẻ sinh non. ROP thường ảnh hưởng đến cả hai mắt và là lý do chính khiến trẻ bị giảm thị lực. Những em bé nặng khoảng 0,9 kg và được sinh ra sớm hơn 31 tuần rất có thể mắc phải ROP. Trong số 28.000 trẻ em ở Mỹ sinh ra có cân nặng nhiều hay ít, có đến 16.000 trẻ sẽ phát triển một số dạng ROP. May mắn thay, hầu hết sẽ có một trường hợp nhẹ và sẽ không cần điều trị. Các hình thức nghiêm trọng hơn có thể gây giảm thị lực và thậm chí mù lòa nếu bạn không chăm sóc chúng.

- Phát triển: mắt của con bạn bắt đầu phát triển khoảng 16 tuần tuổi. Sự tăng trưởng nhanh nhất xảy ra trong 12 tuần cuối của thai kỳ. Các chuyên gia nghĩ rằng sinh non làm gián đoạn sự tăng trưởng sau này, dẫn đến ROP. Yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu máu, khó thở, máu truyền và sức khỏe kém. ROP làm cho các mạch máu trong mắt phát triển bất thường và lây lan qua võng mạc. Những mạch máu mới này rất dễ vỡ và chúng rò rỉ máu vào mắt. Mô sẹo có thể hình thành và kéo võng mạc ra khỏi phía sau mắt, gây giảm thị lực.

- Chẩn đoán: Một kiểm tra mắt là cách duy nhất để tìm thấy bệnh ROP. Nếu em bé sinh non, hãy hỏi bác sĩ để trẻ cần được xét nghiệm. Em bé sinh ra ở tuần thứ 30 hoặc nhỏ hơn, và nặng dưới 3 kg, cần được kiểm tra. Nếu con bạn cần khám, hãy hỏi bác sĩ khi nào là thời điểm tốt nhất. 4 đến 9 tuần sau khi sinh là bình thường, nhưng nó phụ thuộc vào thời điểm mà trẻ được sinh ra. Nếu bác sĩ không tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào thì không cần phải khám và theo dõi.

- Điều trị: Bệnh có năm giai đoạn. Một chuyên gia võng mạc kiểm tra em bé bị ROP sẽ biết khi nào nên theo dõi tình trạng và khi nào nên điều trị, dựa trên các hướng dẫn. Điều trị có thể bao gồm:

  • Liệu pháp áp lạnh (đông lạnh) hoặc quang hóa (liệu pháp laser) để ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu và giữ cho võng mạc gắn vào phía sau mắt của trẻ.
  • Xơ cứng bì là nơi bác sĩ đặt một dải quanh mắt con bạn. Điều này đẩy nó vào bên trong, giúp giữ võng mạc ở vị trí sát vào thành mắt. Ban nhạc sẽ được gỡ bỏ trong một vài tháng hoặc vài năm.
  • Phẫu thuật cắt dịch kính (Vitrectomylà một phẫu thuật liên quan nhiều hơn. Bác sĩ thay thế chất lỏng thủy tinh trong mắt con bạn bằng dung dịch muối. Sau đó, bác sĩ loại bỏ bất kỳ mô sẹo từ bên trong mắt. Điều này cho phép võng mạc thư giãn tại chỗ dựa vào thành mắt.
  • Thuốc đặt bên trong mắt. Các nghiên cứu đang tiếp tục để xem liệu các loại thuốc điều trị thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi trưởng thành có thể được sử dụng được không.

Việc trẻ sinh non làm gián đoạn sự tăng trưởng của mắt, dẫn đến ROP.

Việc trẻ sinh non làm gián đoạn sự tăng trưởng của mắt, dẫn đến ROP.

Điều trị sớm có thể giúp duy trì thị lực trung tâm, cho phép con bạn nhìn thẳng, đọc, nhìn màu sắc và lái xe. Một số các thủ tục này có thể dẫn đến mất thị lực rìa mắt.

- Biến chứng: Trẻ em đã mắc ROP có nhiều khả năng gặp các vấn đề khác sau này:

  • Cận thị.
  • Strabismus (mắt lệch).
  • Chứng nhược thị (mắt lười).
  • Bệnh tăng nhãn áp.
  • Tách võng mạc.

Con bạn sẽ cần khám mắt thường xuyên bởi bác sĩ chuyên khoa thường xuyên như khuyến nghị. Nếu bác sĩ chẩn đoán được ROP sớm thì bác sĩ có thể điều trị hầu hết các tình trạng này mà không bị giảm thị lực.

Tật lác mắt (mắt lé)

Một số ít trẻ em sẽ bị lác mắt, có nghĩa là đôi mắt của trẻ không thẳng hàng như bình thường. Khi các cơ bao quanh và điều khiển mắt không hoạt động cùng nhau, hai mắt của con bạn sẽ hướng về các hướng khác nhau. Các bác sĩ nghĩ rằng điều đó xảy ra vì não của em bé đã không phát triển đủ để kiểm soát cơ mắt. Các yếu tố khác cũng là nguyên nhân tác động là:

  • Các vấn đề về não hoặc thần kinh như nước trên não, chảy máu não, rối loạn co giật, bại não và các tình trạng khác.
  • Tổn thương võng mạc từ ROP.
  • Sự tích tụ của các mạch máu dưới da (bác sĩ sẽ lấy toàn bộ khối u này) gần mắt.
  • Khối u não hoặc mắt.
  • Một đục thủy tinh thể hoặc chấn thương mắt.
  • Chậm phát triển.
  • Rối loạn di truyền.

Nếu con bạn có bất kỳ điều kiện nào trong số này, thì hãy đưa trẻ gặp bác sĩ nhãn khoa nhi. Hãy cho bác sĩ thấy nếu bạn nhận thấy rằng đôi mắt của con bạn bị lác.

- Biến chứng: Do mắt tập trung ở hai khu vực khác nhau, nên não nhận được hai hình ảnh khác nhau. Để bù đắp cho điều này, não của bé bỏ qua hình ảnh từ mắt lác và chỉ xử lý hình ảnh từ mắt mạnh hơn. Điều này có thể ảnh hưởng đến nhận thức sâu sắc của trẻ. Mắt lác cũng có thể dẫn đến nhược thị, hoặc mắt lười biếng. Điều này xảy ra khi mắt lác không phát triển thị lực tốt hoặc thậm chí mất thị lực. Khoảng một phần ba trẻ em bị lác mắt và bị nhược thị.

- Điều trị: Nếu con bạn bị nhược thị, bác sĩ sẽ cần điều trị trước. Bác sĩ sẽ chặn mắt mạnh hơn để não trẻ chỉ nhìn thấy hình ảnh từ người yếu hơn. Anh ta có thể sử dụng một cái bịt mắt hoặc làm mờ tầm nhìn. Điều này sẽ củng cố mắt chéo của trẻ và giúp trẻ nhìn rõ hơn. Con bạn có thể không thích miếng vá, nhưng trẻ cần phải đeo nó. Chứng nhược thị có thể trở thành vĩnh viễn nếu không được điều trị sớm.

Vì sinh non nên não của em bé đã không phát triển đủ để kiểm soát các cơ mắt dẫn đến tật mắt lác.

Vì sinh non nên não của em bé đã không phát triển đủ để kiểm soát các cơ mắt dẫn đến tật mắt lác.

Khi thị lực của trẻ ổn định, bác sĩ có thể phẫu thuật để chữa trị các cơ quanh mắt. Bạn có thể không muốn đưa con mình trải qua ca phẫu thuật khi chúng còn quá nhỏ. Nhưng đôi mắt của trẻ sẽ tốt hơn trong thời gian dài nếu trẻ được điều trị trước 2 tuổi.

Ngay cả sau khi phẫu thuật, trẻ vẫn có thể cần kính. Vì bệnh lác có thể quay trở lại, hãy tuân thủ lịch khám mắt định kỳ mà bác sĩ khuyên.

Các câu hỏi liên quan