Nghiên cứu cho thấy việc mắc chứng trầm cảm khi mang thai có liên quan đến khả năng miễn dịch thấp ở trẻ sơ sinh

Nghiên cứu cho thấy việc mắc chứng trầm cảm khi mang thai có liên quan đến khả năng miễn dịch thấp ở trẻ sơ sinh

- Một nghiên cứu mới từ các nhà nghiên cứu nhi khoa tại Đại học Alberta cho biết, sức khỏe tinh thần của người phụ nữ khi mang thai có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển hệ miễn dịch của trẻ.

- Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa trạng thái tinh thần của phụ nữ mang thai với sự phát triển bệnh hen suyễn và dị ứng ở trẻ em, nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên ở con người nhằm xác định cơ chế hoạt động dẫn đến mối liên hệ này.

- “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những gì xảy ra với người mẹ trong suốt quá trình mang thai có thể ảnh hưởng đến mức độ sản xuất cũng như chức năng của các tế bào immunoglobulin (kháng thể) ở trẻ em”, Anita Kozyrskyj, một nhà dịch tễ học nhi khoa và là nhà nghiên cứu hàng đầu về lĩnh vực vi khuẩn đường ruột cho biết.

- Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra hồ sơ sức khỏe của 1,043 cặp mẹ - trẻ sơ sinh đang tham gia nghiên cứu đoàn hệ CHILD, nghiên cứu này theo dõi sức khỏe của hàng nghìn trẻ em Canada ở độ tuổi thiếu niên.

- Những người mẹ phải điền vào bảng cập nhật thường xuyên về tâm trạng của họ trong và sau khi mang thai, ví dụ: Họ có cảm thấy buồn hay cảm thấy quá sức hay không. Các mẫu phân từ những em bé sẽ được xét nghiệm để kiểm tra sự hiện diện immunoglobulin A (slgA) được tiết ra ở ruột, một kháng thể giữ vai trò cốt yếu trong miễn dịch.

- “Kháng thể này thực sự rất quan trọng đối với hệ vi sinh vật đường ruột nhằm phát triển khả năng miễn dịch qua đường tiêu hoá, màng nhầy, dịch tiết chống lại các kháng nguyên từ môi trường.”, tác giả chính Liane Kang, là người thực hiện bài nghiên cứu tốt nghiệp Thạc Sĩ này và hiện tại đang nghiên cứu y học tại Đại học Alberta.

- Những người mẹ đã thông báo rằng họ có những dấu hiệu trầm cảm trong khoảng thời gian từ tuần thứ 27 đến lúc sinh, hay suốt thời gian mang thai đến sau khi sinh có khả năng các em bé này khi sinh ra bị thiếu hụt trầm trọng lượng kháng thể IgA được tiết ra ở ruột cao gấp 2 lần so với bình thường. Các triệu chứng của những người mẹ này chưa quá nghiêm trọng đủ để chẩn đoán lâm sàng là trầm cảm. Không tìm thấy bất kỳ mối liên hệ nào liên quan đến trầm cảm sau sinh.

- Nếu tính luôn cả những yếu tố khác như cho con bú và sử dụng kháng sinh ở mẹ và bé thì kết quả cho ra vẫn đúng như vậy.

- “Chúng tôi biết rằng những người phụ nữ với tâm trạng lo âu, buồn phiền sẽ ít cho con bú cũng như ít tương tác qua lại nhiều với con”,Kang cho biết. “Sử dụng kháng sinh cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển hệ vi sinh vật đường ruột ở trẻ sơ sinh.”

- “Mặc cho tất cả những yếu tố được nêu trên, vẫn có một mối liên hệ giữa trầm cảm với sự thiếu hụt kháng thể A ở trẻ sơ sinh.”

- Kozyrskyj lưu ý rằng nồng độ kháng thể A thấp nhất được tìm thấy ở trẻ sơ sinh từ bốn đến tám tháng tuổi, đây là khoảng thời gian cơ thể trẻ bắt đầu tự sinh ra kháng thể.

- “Tác động lớn nhất của trầm cảm ở mẹ xuất hiện trong giai đoạn đầu hình thành hệ thống miễn dịch ở trẻ”, cô cho biết.

- Các nhà nghiên cứu cho biết khả năng miễn dịch thấp khiến trẻ có nguy cơ bị nhiễm trùng đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa cũng như hen suyễn và dị ứng, và cũng có thể dẫn đến nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, béo phì và các bệnh tự miễn khác như đái tháo đường. 

- Kozyrskyj cho rằng nồng độ hormon Cortisol chống stress cao có thể được truyền từ những người mẹ bị trầm cảm sang thai nhi và cản trở việc sản xuất các tế bào tạo ra kháng thể sau khi sinh. Bà yêu cầu có thêm nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa hệ vinh sinh vật ở người mẹ và sự phát triển sự miễn dịch ở trẻ sơ sinh.

- Cả 2 nhà nghiên cứu cho biết nghiên cứu của họ chỉ ra rằng cần hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tinh thần cho những người phụ nữ mang thai nhiều hơn.

- “Những người bắt đầu được làm mẹ đang trải qua một giai đoạn vô cùng khác lạ trong cuộc đời họ, họ sẽ phải chăm sóc cho cả hai người và có rất nhiều những yếu tố gây căng thẳng đi kèm với điều đó”, Kang cho biết.

- “Những phát hiện này không nên được sử dụng để đỗ lỗi cho những người mẹ”, Kozyrskyj nói. “Tâm lý của người mẹ sẽ không trở nên như vậy nếu họ không cảm thấy bị cô đơn.

Các câu hỏi liên quan