Cây Hương Nhu

Cây Hương Nhu

Ở Việt Nam có 2 loại cây hương nhu: Trắng và tía.

1.Hương nhu tía là toàn cây trừ rễ phơi hay sấy khô của cây hương nhu Ocimum tenuiflorum L. (Ocimum sanctum L.)
- Tên khác: é rừng hay é tía (miển Trung và miền Nam) hay che tak me (Campuchia).
- Thuộc họ : Hoa môi (Lamiaceae)

2.Hương nhu trắng là toàn cây trừ rễ phơi hay sấy khô của cây hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.)
- Tên khác:é lớn lá, húng giổi tía hay ling leak kranam (Campuchia).
- Thuộc họ : Hoa môi (Lamiaceae)

A.Mô tả cây

Cây hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) là một loại cây nhỏ, sống hằng năm hoặc nhiều năm; có thể cao l,5-2m. Thân và cành thường có màu tía, có lông quặp. Lá có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1-5cm, mép có răng cưa, 2 mặt đều có lông. Hoa màu tím, mọc thành chùm, xếp thành từng vòng từ 6 đến 8 chiếc trên chùm, ít khi phân nhánh. Lá và hoa vò ra có mùi thơm đinh hương.

Câv hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.) là một cây thường cao hơn loài trên.
Lá mọc đối. có cuống, phiến lá dài 5-10cm, hình trứng nhọn, phía cuống thon, mép khía tai bèo hay có răng cưa thô: Trên gân chính của tá có lổng. Hoa nhỏ, xếp thành chùm, đôi khi ở phía dưới có phân nhánh. Hạt không nở và không có chất nhầy bao quanh khi cho vào nước.

B.Phân bố, thu hái và chế biến

Cây hương nhu tía thường được trồng làm thuốc ở quanh nhà. Cây hương nhu trắng mọc hoang nhiều ở khắp nơi trong nước ta, nhiều nhất tại các tỉnh Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên. Còn được trồng ở Ân Độ, Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Philipin.
Trước đây ở nước ta chỉ trồng một ít để dùng làm thuốc. Khi cây đang ra hoa thì hái vể, hái toàn câỵ, phơi khô trong mát để dùng làm thuốc. Gần đây, ta phát triển trồng dùng loài hương nhu trắng (trồng và khai thác những cây mọc hoang) để cất tinh dầu dùng trong nước và xuất khẩu. Trồng bằng hạt, sau 6 tháng bắt đầu thu hoạch, vì nếu cứ để nguyên, cây sống lâu, thành cây bụi cho nên trồng một lần có thể thu hoạch nhiều năm.

C.Thành phần hoá học

Trong cây hương nhu trắng và hương nhu tía đều có tinh dầu, nhưng tỷ lệ tinh dầu trong cây hương nhu trắng cao hơn: 0,6-0,80%, hương nhu tía 0,2-0,3% (tươi). Tinh dầu có 2 phần, phần nhẹ hơn nước và phần nặng hơn nước, vị cay, phần nhẹ hơn nước (0,9746), độ sôi 2430-244°C.

Thành phẩn chủ yếu của tinh dầu hương nhu trắng hay tía là ơgenola (45-70%), ngoài ra còn chừng 20% ête metylic của ơgenola và 3% cacvacrola, o.xymen, p.xymen, camphen, limonen, α và β pinen. Chúng ta biết ơgenola là một vị thuốc rất cần thiết dùng trong nha khoa và trong việc tổng hợp chất vanilin.
Trong loại hương nhu Trung Quốc, có chừng 1% tinh dầu, trong tinh dầu thành phần chủ yếu là chất elsholtzia-xeton C10H14O2 và sesquitecpen.

D.Công dụng và liều dùng

Mặc dầu hương nhu của ta và hương nhu của Trung Quốc thuộc nguồn gốc khác nhau nhưng cùng một công dụng.
Theo đông y, hương nhu có vị cay, hơi ôn, vào 2 kinh phế và vị. Có tác dụng làm ra mồ hôi, chữa cảm mạo, giảm sốt, lợi thấp hành thủy; dùng chữa cảm mạo, đầu nhức, bụng đau, miệng nôn, thủy thũng, đi ỉa lỏng, chảy máu cam.
Ngày dùng 3-8g. Những người âm hư và khí hư không dùng được.
Tây y hiện nay chưa dùng cây này làm thuốc. Thường chỉ cất tinh dầu chế ơgenola dùng trong nha khoa và trong việc tổng hợp chất vanilin.

Đơn thuốc có hương nhu dùng trong nhân dân

1.Chữa chứng hôi miệng:
Hương nhu 10g sắc với 200ml nước. Dùng súc miệng và ngậm.

2.Trẻ con chậm mọc tóc:
Hương nhu 40g, sắc với 200ml nước, cô đặc, trộn với mỡ lợn, bôi lên đầu.

3.Cảm mạo tứ thời:
Hương nhu tán nhỏ, mỗi lần dùng 8g, pha với nước sôi hay dùng rượu hâm nóng mà chiêu thuốc. Ra mồ hôi được là khỏi.

4.Cảm lạnh, phát sốt, thổ tả, nhức đầu, đau bụng, chân tay lạnh ngắt, buồn bực:
Hương nhu 500g, hậu phác tẩm gừng nướng 200g. bạch biến đậu sao 2.000g, tất cả 3 vị tán nhỏ trộn đều, mỗi lần dùng l0g pha với nước đun sôi mà uống. Có thể dùng tới 20g.

Các câu hỏi liên quan