Các nguyên nhân ung thư và cách phòng ngừa (Phần 2)

Các nguyên nhân ung thư và cách phòng ngừa (Phần 2)

Ánh nắng mặt trời

Các tia tử ngoại bức xạ từ mặt trời và các nguồn khác (như đèn mặt trời) gây hại da và có thể gây ung thư da. Tiếp xúc với bức xạ tử ngoại lặp đi lặp lại làm tăng nguy cơ ung thư da, đặc biệt ở người da trắng và người dễ bị tàn nhang. Các tia tử ngoại mặt trời mạnh nhất trong mùa hè từ 11 giờ sáng đến 3 giờ chiều (thời gian chiếu sáng trong ngày). Nguy cơ cao nhất trong thời điểm mặt trời trên đỉnh đầu và có bóng chiếu ngắn. Tốt nhất nên tránh ánh mặt trời khi chiếc bóng ngắn hơn thân người được coi như là một qui luật.

Áo quần bảo vệ, như mũ và áo tay dài có thể giúp ngăn cản những tia mặt trời có hại. Bạn cũng có thể sử dụng màn che mặt trời để giúp bảo vệ bản thân. Màn che mặt trời được xếp loại bằng cường độ theo SPF (yếu tố bảo vệ mặt trời), được xếp từ 2 đến 30 hay cao hơn. Những màn che được xếp từ 15 đến 30 ngăn chặn hầu hết các tia mặt trời có hại.

Phóng xạ

Tiếp xúc với lượng lớn phóng xạ từ chụp X quang y khoa có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Nhưng bạn nhận lượng phóng xạ rất ít khi chụp X quang chẩn đoán và những nguy cơ không đáng so với lợi ích từ chụp X quang mang lại. Tuy nhiên, tiếp xúc phóng xạ lặp lại nhiều lần thì có hại, vì vậy cần thảo luận với bác sĩ hay nha sĩ của bạn về sự cần thiết mỗi lần chụp X quang và sử dụng dụng cụ che chắn bảo vệ các phần khác của cơ thể.

Trước năm 1950, tia X được dùng điều trị các bệnh không ung thư ở trẻ em và người trẻ (như phì đại tuyến ức, phì đại amydales và V.A, nấm biểu bì da đầu, mụn). Người bị chiếu xạ vùng đầu và cổ có nguy cơ hình thành ung thư tuyến giáp cao hơn mức trung bình trong những năm sau đó. Người có bệnh sử điều trị như vậy cần báo cho bác sĩ và được khám vùng cổ cẩn thận mỗi 1 hay 2 năm.

Hoá chất tại nơi làm việc

Tiếp xúc với các chất như kim loại, bụi, hoá chất, hay thuốc diệt vật hại khi làm việc có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Amiăng, nickel, cadmium, uranium, radon, vinyl cloride, benzidine, và benzene là những ví dụ phổ biến về tác nhân sinh ung tại nơi làm việc. Chúng có thể tác động đơn độc hay kết hợp với các tác nhân sinh ung khác như hút thuốc. Ví dụ, hít tơ amian làm tăng nguy cơ các bệnh phổi, trong đó có ung thư, và nguy cơ ung thư đặc diệt cao ở những công nhân amian hút thuốc. Tuân thủ công việc và các luật an toàn để tránh tiếp xúc với các chất nguy hiểm là điều rất quan trọng.

Liệu pháp hormon thay thế

Nhiều phụ nữ sử dụng điều trị estrogen để kiểm soát các triệu chứng nóng cửa mình, khô âm đạo, và loãng xương (xương mỏng) xuất hiện trong thời kỳ mãn kinh. Tuy nhiên, những nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng estrogen làm tăng nguy cơ ung thư tử cung. Các nghiên cứu khác cho thấy tăng nguy cơ ung thư vú giữa những phụ nữ sử dụng estrogen liều cao hoặc dài ngày. Đồng thời, uống estrogen có thể giảm nguy cơ bệnh tim mạch và loãng xương.

Nguy cơ ung thư tử cung xuất hiện ít hơn khi sử dụng kết hợp estrogen và progesterone thay vì estrogen đơn thuần. Nhưng vài nhà khoa học cho rằng sử dụng thêm progresterone cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú.

Các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu và tìm kiếm các thông tin mới về nguy cơ và lợi ích của uống hormon thay thế. Quí bà quan tâm sử dụng liệu pháp hormon thay thế nên thảo luận vấn đề này với bác sĩ của mình.

Diethylstillbestrol (DES)

DES là một dạng estrogen được các bác sĩ kê toa từ đầu thập niên 40 đến năm 1971 để ngừa sẩy thai. Vài bé gái con của những phụ nữ sử dụng DES trong khi mang thai có tử cung, âm đạo và cổ tử cung phát triển không bình thường. Những bé gái này cũng tăng cơ hội hình thành những tế bào phát triển bất thường (loạn sản) ở cổ tử cung và âm đạo. Thêm vào đó, một số ít loại ung thư âm đạo và cổ tử cung được phát hiện ở bé gái tiếp xúc với DES. Phụ nữ uống DES trong khi mang thai có thể tăng nhẹ nguy cơ phát triển ung thư vú. Những bà mẹ và bé gái có DES nên thông báo cho bác sĩ về tình trạng tiếp xúc DES này. Các bé gái tiếp xúc DES nên được khám vùng chậu một cách đặc biệt bởi bác sĩ sản khoa để tìm những bệnh lý liên quan đến DES.

Một số nhỏ ung thư bao gồm u hắc tố (melanoma) và ung thư vú, buồng trứng, đại tràng, có khuynh hướng xuất hiện thường xuyên ở vài gia đình hơn là phần đông dân số còn lại. Không phải lúc nào cũng rõ ràng ràng ung thư trong gia đình là do nguyên nhân di truyền. Tuy vậy nếu họ hàng gần mắc bệnh ung thư, cũng cần cho bác sĩ biết và làm theo lời khuyên của bác sĩ về ngừa ung thư cũng như kiểm tra sức khoẻ để phát hiện ung thư sớm.

Tóm lược về ung thư

Ung thư là một nhóm trên 100 bệnh khác nhau.

Những khối u lành tính không phải là ung thư. Các khối u ác tính là ung thư.

Hầu hết ung thư được gọi tên theo loại tế bào hay cơ quan bắt đầu

Khi ung thư lan rộng (di căn), khối u mới có cùng tên với khối u gốc (nguyên phát).

Ung thư da là loại ung thư thường gặp nhất ở cả nam và nữ.

Tại Hoa Kỳ, ung thư thường gặp thứ hai ở nam là ung thư tiền liệt tuyến, còn ở phụ nữ là ung thư vú.

Ung thư không lây.

Các yếu tố nguy cơ được xác định ở hầu hết các loại ung thư.