Bo rừng

Bo rừng

Bo rừng, Ngô đồng, Trôm đơn - Firmiana simplex (L.) w. Wight, thuộc họ Trôm - Sterculiaceae.

Mô tả Bo rừng:

Bo rừng là dạng cây gỗ rụng lá, cao 15-17m, đường kính 40-50cm. Vỏ nhẵn khi non màu lục xám, khi già màu lục xám hoặc xám. Cành non màu lục; chồi hình cầu, phủ lông màu nâu. Lá đơn mọc so le, phân 3-5 thùy chân vịt, dài và rộng 8-35cm, gốc lá hình tim, các thùy không có răng cưa, mặt trên gần như không có lông, mặt dưới có lông mềm hình sao. Cuống lá dài 6-35cm.

Bo rừng có cụm hoa chùy, dài chừng 20cm, lông tơ ngắn. Hoa đơn tính, không có cánh hoa, 5 lá đài hình dải, đầu nhọn, dài chừng 1cm, màu vàng hoặc trắng vàng, cuộn ra phía ngoài, phía gốc hợp thành ống dài chừng 2mm, mặt ngoài có lông tơ ngắn màu vàng. Hoa đực có cuống bộ nhị, dài hơn lá đài, đầu mang chừng 15 bao phấn. Ở hoa cái nhụy có cuống, 5 lá noãn rời, gốc bầu có nhị thoái hoá. Quả nang gồm 5 lá noãn đụng là mở ra trước khi chín. Lá noãn mỏng, hình đàn tỳ bà, có hệ gân mạng lưới, dài 7-9,5cm, có lông hình sao, mang 4-5 hạt đính ở mép. Hạt hình cầu, to bằng hạt đậu, màu nâu vàng, có vân.

Sinh thái Bo rừng:

Bo rừng cây mọc trong các rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới. Ưa sống trên những vùng có núi đá vôi, nhưng trên những đất chua hoặc trung tính, cây cũng có thể sống và phát triển được. Ưa sáng, sinh trưởng nhanh khi non. Nhân giống dễ dàng bằng hạt. Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 8-9.

Phân bố Bo rừng:

Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.

Còn có ở Trung Quốc, Nhật Bản.

Bộ phận dùng của Bo rừng:

Rễ, vỏ, hoa, hạt và lá Bo rừng - Radix, Cortex, Flos, Semen et Folium Firmianae.

Ở Trung quốc, thường gọi là Ngô đồng - 梧桐.

Rễ và vỏ thu hái quanh năm; thu hái hoa vào mùa hè, hạt và lá vào mùa thu, phơi khô dùng.

Thành phần hoá học của Bo rừng:

Hạt Bo rừng có dầu, hàm lượng tới 40%.

Tính vị, tác dụng của Bo rừng:

Rễ, vỏ Bo rừng có vị đắng, tính mát; có tác dụng trừ phong thấp, tiêu viêm, sát trùng. Hoa và hạt Bo rừng vị ngọt, tính bình, có tác dụng nhuận khí, hoà vị, tiêu tích trệ. Lá Bo rừng vị ngọt, tính bình, có tác dụng an thần, hạ huyết áp, tiêu viêm, giảm cholesterol.

Công dụng làm thuốc của Bo rừng:

Rễ Bo rừng dùng chữa thấp khớp dạng khớp, lao phổi và thổ huyết, đòn ngã tổn thương, bạch đới, bệnh giun đũa. vỏ dùng chữa trĩ, lòi dom. Hạt trị thương thực, đau dạ dày, sán khí, tiêu chảy, chốc mép. Lá Bo rừng dùng trị đau động mạch vành, huyết áp cao, tăng lipit huyết, thấp khớp tạng khớp, suy nhược thần kinh, bất lực, di tinh, ung nhọt và viêm mủ da. Hoa Bo rừng trị bỏng lửa và bỏng nước, thủy thũng. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; có thể tán bột hoa, hạt, lá 3-10g để rắc.

Nhân dân còn dùng vỏ Bo rừng khô đốt ra than, tán bột, nhào với dầu dùng làm thuốc bôi cho đen tóc; có khi dùng dầu hạt để thay thế làm thuốc đen tóc và chữa rụng tóc.

Đơn thuốc của Bo rừng:

1.    Thủy thũng: Hoa Bo rừng 10-15g, sắc uống.
2.    Huyết áp cao: Lá Bo rừng 5-10g, sắc uống.
3.    Thấp khớp: Rễ Bo rừng 15-30g, sắc uống.
4.    Thương thực bụng đau: Hạt Bo rừng tán bột, hoà với nước uống, mỗi lần 3g.

Tủ đông sài gòn giá rẻ giao hàng ngay trong ngày

Các câu hỏi liên quan