Bọ mẩy

Bọ mẩy

Bọ mẩy, Đắng cáy - Clerodendrum cyrtophyllum Turcz., thuộc họ cỏ roi ngựa - Verbenaceae.

Mô tả Bọ mẩy:

Bọ mẩy là dạng cây bụi hay cây nhỡ cao khoảng 1,50m, có các cành màu xanh, lúc đầu phủ lông, về sau nhẵn. Lá mọc đối, hình bầu dục-mũi mác hay hình trứng thuôn, dài 6-15cm, rộng 2,5-7cm, chóp nhọn và thường có mũi, gốc tròn hay hơi nhọn; phiến lá thường nguyên, ít khi có răng, gân nổi rõ ở mặt dưới. Hoa màu trắng, ít khi đỏ, họp thành ngù, ở đầu các cành phía ngọn cây; nhị thò ra ngoài và dài gần gấp đôi ống tràng. Quả hạch mang đài tồn tại.

Sinh thái Bọ mẩy:

Bọ mẩy mọc trong rừng thưa, ven rừng, các trảng cây bụi, ven đường đi từ các vùng thấp lên đến độ cao 1500m. Ra hoa quả từ tháng 6 đến tháng 12.

Phân bố Bọ mẩy:

Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Tây Ninh, Tp. Hồ Chí Minh. Còn có ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaixia.

Bộ phận dùng của Bọ mẩy:

Toàn cây, rễ và lá Bọ mẩy - Herba, Radix et Folium Clerodendri thường có tên là Đại thanh -大青. Thu hái rễ và lá quanh năm. Rễ mang về rửa sạch, thái lát, phơi khô dùng. Lá dùng tươi hay sấy khô.

Tính vị, tác dụng của Bọ mẩy:

Bọ mẩy có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, tả hoả, lương huyết, giải độc, tán ứ, chỉ huyết.

Công dụng làm thuốc của Bọ mẩy:

Người ta thường lấy lá non Bọ mẩy hấp cơm hoặc luộc chín làm rau ăn có vị đắng, nên gọi là Rau đắng, có tác dụng lợi tiêu hoá.

Rễ Bọ mẩy thường được dùng nấu nước cho phụ nữ sinh đẻ uống để lọc máu và bồi bổ cơ thể.

Cây Bọ mẩy thường được dùng trị: 1. Viêm ruột, lỵ trực trùng ra máu; 2. Viêm hầu họng, viêm amygdal, viêm tuyến nước bọt, cảm mạo phát sốt; 3. Răng lợi xuất huyết. Cũng là vị thuốc chữa hư tổn và điều trị bệnh đơn sưng rất có hiệu quả.

Người ta cũng thường dùng lá Bọ mẩy tươi nấu nước tắm trị ghẻ lở.

Ở Trung Quốc (Hương cảng), người ta dùng làm thuốc với nhiều công dụng: 1. Dự phòng viêm não tuỷ sống, viêm não truyền nhiễm B; 2. Cảm sốt chung, viêm đường hô hấp trên, viêm amygdal; 3. Viêm phổi sau khi bị sởi; 4. Viêm tuyến mang tai truyền nhiễm; 5. Nhiễm khuẩn gan; 6. Lỵ; 7. Tổn thương đường tiết niệu. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Có thể nấu thành cao hoặc dùng thuốc bột.

Đơn thuốc của Bọ mẩy:

1.    Bệnh ôn nhiệt, sốt nóng mùa hè, chứng thực nhiệt, sốt cao, nhức đầu, tâm phiền khát nước, dùng 12-20g lá Bọ mẩy tươi nấu nước rồi hòa thêm đường cho uống.

2.    Trẻ em sốt bại liệt, sốt viêm não, sốt phát ban, quai bị, sốt xuất huyết: Bọ mẩy, Kim ngân, Thạch cao, Huyền sâm, mỗi vị 20g, sắc uống.

3.    Ngộ độc Nhân ngôn hay Ba đậu, dùng rễ Bọ mẩy tươi, giã nhỏ, chế nước và vắt lấy nước cốt, hòa đường cát vào uống, càng nhiều càng tốt để giải độc.

4.    Chữa lỵ trực trùng, dùng rễ Bọ mẩy, rễ Phèn đen, mỗi vị 15g, sắc uống.

5.    Đàn bà rong huyết: Ngẫu tiết sấy khô đâm nát rồi trộn với rễ Bọ mẩy nấu nước uống với rượu, mỗi lần một muỗng canh.

6.    Cầm máu khi băng huyết: Lá Bọ mẩy tươi giã ra, thêm nước, gạn uống.

7.    Viêm não B truyền nhiễm, dùng lá và rễ Bọ mẩy 15-30g, nấu nước uống, cách 4 giờ một lần.

Tủ đông sài gòn giá rẻ giao hàng ngay trong ngày

Các câu hỏi liên quan