Bò cạp nước

Bò cạp nước

Bò cạp nước, Muồng hoàng yến - Cassia fistula L., thuộc họ Đậu - Fabaceae.

Mô tả Bò cạp nước:

Bò cạp nước là dạng cây gỗ ít khi cao quá 10-15m, với nhánh nhẵn. Lá có trục dài 15-25m; cuống lá 7-10cm. Lá chét 3-8 đôi, hình trái xoan, thuôn, cỡ 7-12 x 4-8cm, thường nhọn ở chóp, hình góc rộng ở gốc; cuống phụ 5-10mm.

Bò cạp nước có cụm hoa thành chùm ở nách lá, thòng xuống, thưa hoa, dài 20-40cm. Hoa có cuống 15-35mm; lá đài xoan- bầu dục, 7-10mm, có lông nhung ở mặt ngoài; cánh hoa vàng, hình trái xoan, 30-35 x 10-15mm; nhị 3 cỡ (3 nhị dài, 4 nhị ngắn và 3 nhị tiêu giảm); bầu và vòi nhụy có lông. Quả đậu hình trụ, 20-60x1,5-2cm, màu đen; hạt nhiều, dẹp hình bầu dục, màu nâu bóng. 

Sinh thái Bò cạp nước:

Cây Bò cạp nước mọc trong các rừng hỗn giao rụng lá, ít khi gặp trong rừng thưa cây họ Đậu.

Bò cạp nước ra hoa tháng 3, có quả tháng 11.

Phân bố Bò cạp nước:

Kon Tum, Gia Lai. Được trồng ở một số thành phố Hà Nội, Vinh, Nha Trang, Tp. Hồ Chí Minh. Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Xri Lanca, Malaixia, Inđônêxia.

Bộ phận dùng của Bò cạp nước:

Quả, hạt, rễ và vỏ Bò cạp nước - Fructus, Semen, Radix et Cortex Cassiae Fistulosae.

Thu hái rễ, vỏ và lá quanh năm; thu hái hạt vào mùa thu đông.

Thành phần hoá học của Bò cạp nước:

Lá cây Bò cạp nước chứa anthraquinon, một ít tanin và các sennosid A và B. Vỏ rễ Bò cạp nước chứa tanin, phlobaphen và chất oxy-anthraquinon. Thịt quả Bò cạp nước chứa rhein và khá nhiều anthraquinon, một ít dầu bay hơi, ba chất sáp và một chất nhựa, vỏ thân chứa fistulacidin.

Tính vị, tác dụng của Bò cạp nước:

Vỏ rễ, hạt và lá Bò cạp nước có tác dụng nhuận tràng. Rễ làm se, bổ, hạ nhiệt và xổ. Quả tẩy nhẹ và hạt xổ, gây nôn; chúng đều có hoạt tính kháng sinh. Nói chung, quả có tác dụng nhuận tràng và xổ.

Công dụng làm thuốc của Bò cạp nước:

Vỏ cây và thịt quả Bò cạp nước dùng để ăn với trầu không. Lõi cây Bò cạp nước có thể dùng ăn với cá. Ở Campuchia, vỏ dùng giã đắp xát chỗ rắn cắn và bò cạp cắn. Ở Thái Lan, người ta dùng thịt quả làm thuốc nhuận tràng và long đờm; hoa dùng hạ nhiệt và nhuận tràng; gỗ dùng trị giun, nhất là giun đũa. Ở Ấn Độ, người ta dùng quả Bò cạp nước làm thuốc trị bệnh thấp khớp, trị rắn cắn; dịch lá chữa bệnh ngoài da. Ta thường dùng quả Bò cạp nước chữa táo bón và thông đại tiện. Lá, vỏ và rễ cây Bò cạp nước cũng được dùng như quả, chữa ăn uống kém tiêu, tay chân đau mỏi, táo bón hay bệnh lỵ mới phát, ở Trung Quốc, vỏ thân, quả với thịt quả được dùng làm thuốc; vỏ thân dùng trị đau răng, quả dùng trị nhiệt bệnh và trẻ con cam tích; quả giáp dùng trị bí đại tiện của người già.

Liều dùng 10-25g quả hoặc 20-30g các bộ phận khác sắc uống. Lá giã nhỏ dùng xát hắc lào hoặc đắp vết thương rắn cắn, sâu cắn.

Tủ đông sài gòn giá rẻ giao hàng ngay trong ngày

Các câu hỏi liên quan