Bệnh U Tế Bào Thần Kinh Đệm

Bệnh U Tế Bào Thần Kinh Đệm

Bệnh U tế bào thần kinh đệm là gì?

U tế bào thần kinh đệm (tên tiếng Anh là Glioma) là khối u xảy ra ở não và tủy sống. U thần kinh đệm này bắt nguồn từ các tế bào dính kết hỗ trợ (những tế bào thần kinh đệm) - loại tế bào này bao quanh các dây thần kinh và giúp chúng thực hiện chức năng của mình.

U thần kinh đệm này bắt nguồn từ các tế bào dính kết hỗ trợ (những tế bào thần kinh đệm).

U thần kinh đệm này bắt nguồn từ các tế bào dính kết hỗ trợ (những tế bào thần kinh đệm).

Có ba loại tế bào thần kinh đệm gây ra những khối u này và được phân loại dựa trên loại tế bào thần kinh đệm có trong khối u. Các loại u thần kinh đệm bao gồm:

- Những u tế bào hình sao (astrocytomas) bao gồm những tế bào u tế bào hình sao, u tế bào hình sao không biệt hóa (anaplastic astrocytoma), u nguyên bào thần kinh đệm (glioblastoma). 

- Những u màng não thất (ependymomas) bao gồm u màng não thất chưa biệt hóa (anaplastic ependymoma), u màng não thất nhầy nhú (myxopapillary), u dưới màng não thất (subependyoma).

- Những u thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendrogliomas) bao gồm u thần kinh đệm ít nhánh, u thần kinh đệm ít nhánh chưa biệt hóa (anaplastic oligodendroglioma) và u hình sao ít nhánh chưa biệt hóa (anaplastic oligoastrocytoma).

Nguyên nhân gây ra bệnh u tế bào thần kinh đệm là gì?

Giống như hầu hết các khối u não nguyên phát khác, hiện nay nguyên nhân gây ra căn bệnh trên vẫn chưa xác định rõ. Nhưng có một số yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ gây ra căn bệnh trên bao gồm:

Tuổi tác đóng vai trò quan trọng trong bệnh U tế bào thần kinh đệm.

Tuổi tác đóng vai trò quan trọng trong bệnh U tế bào thần kinh đệm.

- Tuổi tác:

U tế bào thần kinh đệm thường gặp ở người lớn, độ tuổi từ 60 đến 80 tuổi. Mặc dù vậy, u não xảy ra ở mọi lứa tuổi. Một số loại u não, như u màng não thất hay u sao bào lông (pilocytic astrocytoma) thường gặp ở trẻ em và người trẻ.

- Phơi nhiễm bức xạ:

Người phơi nhiễm các loại bức xạ hay còn được gọi là bức xạ ion hóa cũng có thể làm tăng nguy cơ gây ra u não. Ví dụ của loại bức xạ ion hóa này là bức xạ trong điều trị trị ung thư và phơi nhiễm bức xạ của bơm nguyên tử. Hay những dạng bức xạ thường gặp hơn như trường điện từ của dây điện và bức xạ vô tuyến từ điện thoại di động, lò vi sóng chưa cho thấy rằng sẽ tăng nguy cơ u thần kinh đệm.

- Tiền sử gia đình:

Hiếm khi u thần kinh đệm di truyền theo gia đình. Nhưng đôi khi có một số trường hợp tiền sử gia đình có u tế bào thần kinh đệm sẽ tăng nguy cơ có bệnh lên gấp đôi. Một số gen có liên hệ ít đến u tế bào thần kinh đệm, cần nhiều nghiên cứu hơn để chứng minh sự liên kết các biến đổi gen này và các u não.

Triệu chứng dễ nhận thấy ở bệnh u tế bào thần kinh đệm là gì?

Các dấu hiệu và triệu chứng thường gặp bao gồm:

Đau đầu và buồn nôn hoặc nôn.

Đau đầu và buồn nôn hoặc nôn.

- Đau đầu.

- Buồn nôn và nôn mửa.

- Rối loạn hoặc giảm chức năng não.

- Mất trí nhớ.

- Thay đổi tính cách hay dễ bị kích thích.

- Khó khăn trong giữ thăng bằng.

- Vô niệu.

- Các vấn đề về thị lực như mờ mắt, nhìn đôi, mất thị trường ngoại biên.

- Nói khó.

- Động kinh đặc biệt là trên những người có tiền sử động kinh.

Cách điều trị u tế bào thần kinh đệm

Để điều trị u tế bào thần kinh đệm thường dựa vào loại, kích cỡ, mức độ và vị trí u cũng như tuổi, sức khỏe tổng thể và quyết định của bệnh nhân.

Ngoài việc loại bỏ khối u, điều trị u tế bào thần kinh đệm có thể có thêm việc dùng một số thuốc để giảm các dấu hiệu và triệu chứng.

Bác sĩ có thể kê thuốc để giảm đau và giảm áp lực lên vùng não bị ảnh hưởng. Thuốc chống động kinh có thể dùng để kiểm soát động kinh.

Phẫu thuật

Phẫu thuật loại bỏ càng nhiều càng tốt khối u thường là bước điều trị đầu tiên.

Trong một số trường hợp, khối u nhỏ và dễ dàng tách khỏi vùng mô não khỏe mạnh xung quanh, khi đó phẫu thuật loại bỏ hoàn toàn là có thể. Trong những trường hợp khác, khối u không thể tách ra khỏi mô xung quanh, hoặc u nằm ở vùng nhạy cảm trong não khiến việc phẫu thuật nguy hiểm. Những trường hợp này bác sĩ loại bỏ một lượng u sao cho vẫn an toàn.

Tuy nhiên phương pháp phẫu thuật có thể gây ra các nguy cơ như nhiễm trùng và mất máu. Ngoài ra các nguy cơ khác có thể tùy thuộc vào phần não có u. Ví dụ: Phẫu thuật gần vùng thần kinh liên kết với mắt có nguy cơ mất thị lực.

Xạ trị

Xạ trị phụ thuộc vào liều và loại xạ.

Xạ trị phụ thuộc vào liều và loại xạ.

Xạ trị thường được áp dụng điều trị theo sau phẫu thuật, đặc biệt là ở những glioma grade cao. Bức xạ được dùng ở những tia năng lượng cao như là tia X hay protons để giết tế bào u.

Một vài loại tia xạ ngoài đang được sử dụng và nghiên cứu cho việc điều trị glicoma. Loại glicoma người bệnh mắc phải, mức độ của nó và những yếu tố tiên lượng khác sẽ được xem xét trong việc xác định thời gian và loại phương pháp xạ.

Các phương pháp xạ trị bao gồm dùng máy tính để nhắm trúng vào u (phương pháo bức xạ cường độ cao), sử dụng proton nhiều hơn là tia X như là nguồn bức xạ (phương pháp tia proton) và phương pháp xạ trị có định hướng (phẫu thuật tia xạ).

Có nhiều loại công nghê trong phẫu thuật tia xạ để đưa bức xạ vào u não như gamma động học hay máy gia tốc tuyến tính (LINAC).

Tác dụng phụ của xạ trị phụ thuộc vào liều và loại xạ. Phản ứng phụ thông thường là sốt hoặc ngay sau khi xạ như mệt mỏi, đau đầu, kích ứng da.

Hóa trị

Hóa trị là sử dụng những thuốc để giết tế bào u. Những thuốc hóa trị có thể ở dạng viên (uống) hoặc tiêm tĩnh mạch (trong tĩnh mạch).

Hóa trị thường dùng phối hợp với xạ trị để trị u tế bào thần kinh đệm.

Tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc vào loại và liều thuốc. Tác dụng phụ thông thường bao gồm buồn nôn và nôn, đau đầu, rụng tóc, sốt, và mệt mỏi. Một số tác dụng phụ có thể kiểm soát bằng thuốc.

Phương pháp thuốc nhắm trúng đích

Bằng cách khóa các bất thường này, thuốc có thể giết các tế bào ung thư.

Bằng cách khóa các bất thường này, thuốc có thể giết các tế bào ung thư.

Thuốc nhắm trúng đích điều trị tập trung vào những bất thường đặc trưng trong tế bào ung thư. Bằng cách khóa các bất thường này, thuốc có thể giết các tế bào ung thư.

Một loại thuốc nhắm trúng đích dùng để điều trị ung thư, dùng để tiêm tĩnh mạch, ngưng sự hình thành của những mạch máu mới, cắt nguồn cung cấp máu cho khối u và giết tế bào u.

Phục hồi chức năng sau điều trị

Bởi vì các khối u phát triển ở các phần điều khiển vận động, lời nói, thi lực và suy nghĩ, phục hồi chức năng có thể là một điều cần thiết cho sự phục hồi. Bác sĩ có thể đề nghị một số phương pháp giúp đỡ như:

- Vật lý trị liệu có thể giúp trả lại kỹ năng vận động đã mất và sức mạnh các cơ.

- Điều trị bằng lao động có thể giúp bạn trở về các hoạt động bình thường, bao gồm việc làm sau một khối u não hay bệnh khác.

- Trị liệu lời nói với chuyên gia đối với những người nói khó khăn.

- Gia sư cho các trẻ trong tuổi đến trường có thể giúp trẻ đối mặt với những thay đổi trong trí nhớ hoặc suy nghĩ sau u não.

Các câu hỏi liên quan