Amíp phổi

Amíp phổi

Entamoeba không phải là ký sinh trùng hay gây tổn thương cơ quan hô hấp mà bệnh lý phổi-màng phổi do amíp thường chỉ là biến chứng của bệnh amíp ở ruột hoặc ngoài ruột. Bệnh lây theo đường tiêu hoá do ăn phải kén amíp. Amíp ký sinh ở đại tràng, ở đó chúng phát triển và tạo thành thể tự dưỡng và thể kén. Bệnh amíp ruột thường có biểu hiện lâm sàng ở những mức độ khác nhau hoặc không có triệu chứng lâm sàng, nhưng ở bất kỳ thể nào, bệnh đều có thể lan đến các cơ quan ngoài ruột, thường gặp nhất là gan (gây áp - xe gan).

Bệnh amíp phổi xuất hiện do những cơ chế sau:

  • Do vỡ ổ áp - xe gan qua cơ hoành: đây là cơ chế phổ biến nhất.
  • Lan theo đường bạch huyết từ gan qua cơ hoành.
  • Lan theo đường máu theo những cục tắc (emboli) từ gan hoặc đại tràng, trực tràng lên phổi. Khi đó tổn thương ở gan do amíp hoặc không có hoặc có đồng thời với tổn thương phối. Tuy nhiên cơ chế này ít gặp.

Tổn thương amíp phổi là thể amíp ngoài ruột thường gặp thứ hai sau amíp gan.

Triệu chứng và chẩn đoán

Áp-xe gan do amíp thường tiến triển thầm lặng, gặp nhiều ở nam giới hơn nữ . Tiền sử lỵ có trước hoặc kèm theo chỉ gặp ở một số ít bệnh nhân.

  • Triệu chứng hay gặp là đau ở vùng hạ sườn phải, vùng thượng vị, hoặc đau ở lồng ngực bên phải, vùng bả vai phải. Cảm giác đau sâu, nhưng có thể đau kiểu màng phổi; ho, ra mồ hôi, sụt cân, mệt mỏi, nấc.
  • Khám thấy gan to, thường có phản ứng thành bụng khu trú.
  • Xét nghiệm: Bạch cầu tăng cao kèm theo thiếu máu.
  • X quang lồng ngực: vòm hoành phải nâng cao.
  •  Siêu âm gan thấy có khoang kén trong gan.
  • Chụp xạ nhấp nháy gan với gallium citrat hoặc technesium gắn sulfur colloid thấy có “nhân lạnh”.
  • Chẩn đoán xác định bằng test huyết thanh ngăn ngưng kết hồng cầu hoặc khuếch tán gel: dương tính hơn 95% trong amíp gan.

Vỡ ổ áp - xe gan có thể gây tổn thương bất kỳ cơ quan lân cận nào, nhưng tỷ lệ vỡ vào lồng ngực cao gấp 4 lần vỡ vào ổ bụng.

Khoảng 90% áp - xe gan amíp gặp ở thuỳ phải gan. Vị trí thuỳ trái tuy ít gặp, nhưng thường gây tử vong do vỡ vào màng ngoài tim. Trước khi vỡ, áp-xe gan amíp thường gây tràn dịch màng phổi. Áp-xe gan amíp vỡ vào lồng ngực thường gặp ở 4 thể sau:

  • Vỡ vào khoang màng phổi gây mủ màng phổi do amíp.
  • Vỡ vào phổi gây viêm phổi
  • Áp-xe phổi
  • Rò gan-phế quản.

Hai thể mủ màng phổi và rò gan-phế quản thường gặp hơn cả. Triệu chứng hay gặp là đau, ho, khái huyết, khó thở. Đau kiểu màng phổi hoặc khu trú ở vùng mạng sườn phải. Có thể ho khan, nhưng thường là khạc đờm hoặc khạc mủ có amíp, số lượng từ ít đến nhiều. Tổn thương thường gặp ở thuỳ dưới hoặc giữa phải.

Chẩn đoán amíp phổi cũng tương tự như amíp gan. Test huyết thanh dương tính trên 90%.

Khi có rò gan-phê quản, bệnh nhân thường khạc ra mủ màu nâu đỏ hoặc màu “nước chấm cá bống” (anchovy sauce) gợi ý căn nguyên amíp. Nếu chưa điều trị đặc hiệu có thể phát hiện thấy kén amíp ở mủ khạc ra.

Điều trị

  • Metronidazol 750mg/ngày trong 10 ngày, hoặc
  • Tinidazol 400mg/ngày x 5 ngày.
  • Hút dịch màng phổi (nếu có)

Các câu hỏi liên quan